PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KÝ SINH TRÙNG

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KÝ SINH TRÙNG

www.giunsan.vn

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KÝ SINH TRÙNG

TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CỦA GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, THẦY THUỐC NHÂN DÂN NGUYỄN VĂN ĐỀ

GS.TS. BS. Nguyễn Văn Đề là một trong những chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu và điều trị chuyên khoa Ký sinh trùng tại Việt Nam. Với gần 40 năm công tác chuyên môn, ông đã đóng góp nhiều công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao cho nền y học nước nhà, trực tiếp và gián tiếp hỗ trợ điều trị hiệu quả cho hàng triệu bệnh nhân mắc các bệnh do giun sán.

GS.TS. BS. Nguyễn Văn Đề 

1. Nền tảng học vấn và những năm đầu sự nghiệp

GS.TS Nguyễn Văn Đề sinh ra tại mảnh đất Hà Tĩnh. Thời học sinh phổ thông, ông học tập trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn, nhiều giai đoạn phải học dưới hầm địa đạo. Năm 1971, ông đạt thành tích xuất sắc khi lọt vào nhóm 6 học sinh giỏi Toán toàn miền Bắc (tương đương kỳ thi học sinh giỏi quốc gia sau này).

Năm 1973, ông thi đỗ và bắt đầu học tập tại Trường Đại học Y Hà Nội. Đến năm 1978 (năm thứ 5 đại học), ông đạt điểm cao nhất trong kỳ thi bác sĩ nội trú và được tuyển chọn vào lớp Bác sĩ nội trú khóa đầu tiên của Bộ môn Ký sinh trùng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS. Đỗ Dương Thái.

Trong 3 năm học nội trú (1979 - 1982), ông vừa làm bác sĩ nội trú vừa đảm nhiệm vai trò trợ giảng tại Đại học Y Hà Nội, đồng thời tích lũy kinh nghiệm lâm sàng thực tế tại các bệnh viện lớn như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương. Năm 1983, sau khi tốt nghiệp Bác sĩ nội trú chuyên khoa Ký sinh trùng, ông chính thức về công tác tại Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương.

2. Hoạt động giảng dạy và đào tạo nguồn nhân lực y tế

Năm 2007, sau 24 năm làm việc tại Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương, GS.TS Nguyễn Văn Đề chuyển công tác về Trường Đại học Y Hà Nội và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng.

Bên cạnh công tác giảng dạy chính quy tại Đại học Y Hà Nội, ông còn tham gia đào tạo sau đại học, bác sĩ chuyên khoa II, cao học và nghiên cứu sinh cho nhiều trường đại học y dược trên cả nước như Học viện Quân y, Đại học Y tế Công cộng, Đại học Tây Nguyên, Đại học Y khoa Huế.

Trong sự nghiệp đào tạo, ông đã hướng dẫn thành công cho:

  • 8 sinh viên bảo vệ khóa luận tốt nghiệp xuất sắc.
  • 5 học viên bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ.
  • 8 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, trong đó có 1 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Vương quốc Bỉ.
  • 1 bác sĩ chuyên khoa II.

Ở quy mô quốc tế, ông từng tham gia giảng dạy sau đại học tại Đại học Y Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) và hướng dẫn thực hành chuyên môn cho các sinh viên đến từ Thụy Điển.

3. Hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu

GS.TS Nguyễn Văn Đề là chủ biên và tác giả của hơn 265 công trình nghiên cứu khoa học (trong đó có 50 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế, 22 báo cáo hội nghị quốc tế) và 11 đầu sách giáo trình y khoa. Các giáo trình tiêu biểu do ông biên soạn bao gồm:

  • Sán lá gan (2004)
  • Sán lá phổi (2005)
  • Y – Sinh học phân tử (2006)
  • Ký sinh trùng truyền lây giữa người và động vật (2009)
  • Sán dây/ấu trùng sán lợn và Sinh học phân tử ứng dụng (2010)
  • Ký sinh trùng trong lâm sàng (cho Cử nhân Kỹ thuật Y học)
  • Ký sinh trùng Y học (cho bác sĩ đa khoa và bác sĩ Y học cổ truyền)

Giáo sư cũng là chủ nhiệm của nhiều đề tài nghiên cứu cấp Bộ Y tế và đề tài Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) mang tính thực tiễn cao, tập trung ứng dụng sinh học phân tử trong chân đoán ký sinh trùng:

  • Đề tài cấp Bộ Y tế (1994-1996): Nghiên cứu dịch tễ, biểu hiện bệnh lý và điều trị bệnh sán lá phổi tại Sìn Hồ, Lai Châu.
  • Đề tài cấp Bộ Y tế (1998-2000): Nghiên cứu dịch tễ, bệnh lý, chẩn đoán và điều trị bệnh sán lá phổi ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
  • Đề tài cấp Bộ Y tế (2002-2003): Bước đầu điều tra dịch tễ trùng roi đường máu do Leishmania gây nên tại Quảng Ninh.
  • Đề tài cấp Bộ Y tế (2002-2003): Tình hình nhiễm sán lá gan và biến động tỷ lệ nhiễm tại một số điểm điều tra có can thiệp một phần bằng điều trị đặc hiệu.
  • Đề tài cấp Bộ Y tế (2003-2005): Bước đầu áp dụng sinh học phân tử (Kỹ thuật PCR) để xác định thành phần loài và sự phân bố sán lá, sán dây thường gặp ở Việt Nam.
  • Đề tài Hợp tác quốc tế FIBOZOPA - Đan Mạch (2005): Nghiên cứu sán lá truyền qua cá trên người tại Nghệ An, Nam Định và An Giang.
  • Đề tài NAFOSTED (2009-2011): Nghiên cứu thành phần loài sán lá truyền qua cá ở người và cá nước ngọt sử dụng phương pháp hình thái học và sinh học phân tử tại miền Bắc Việt Nam.
  • Đề tài cấp Bộ Y tế (2012-2014): Nghiên cứu tình trạng mắc, thành phần loài và chẩn đoán một số bệnh ký sinh trùng ký sinh các mô, tạng ở người.
  • Đề tài NAFOSTED (2012-2014): Xác định một số loài giun tròn từ động vật truyền sang người tại Việt Nam sử dụng phương pháp hình thái học và sinh học phân tử.
  • Đề tài NAFOSTED (2015-2017): Nghiên cứu thành phần loài một số Ký sinh trùng có nguồn gốc động vật ký sinh trên người Việt Nam sử dụng phương pháp hình thái học và sinh học phân tử.
  • Đề tài cấp Bộ Y tế: Nghiên cứu ô nhiễm mầm bệnh giun sán truyền sang người trên thịt lợn, trâu bò và cá nước ngọt.

4. Vai trò trong điều trị lâm sàng các bệnh do giun sán

Các công trình nghiên cứu và tài liệu của GS.TS Nguyễn Văn Đề đã giúp chuẩn hóa quy trình điều trị lâm sàng, hạn chế các trường hợp chẩn đoán sai lệch nghiêm trọng trên cả nước:

Tránh nhầm lẫn Sán lá phổi với bệnh Lao: Cuốn sách "Sán lá phổi" (2005) đã giúp hệ thống y tế cơ sở nhận diện đúng bệnh. Trước đó, nhiều bệnh nhân bị chẩn đoán nhầm lao phổi và điều trị kéo dài nhiều năm không khỏi. Tài liệu ghi nhận trường hợp một bệnh nhân tại Hà Giang điều trị lao suốt 30 năm nhưng thực tế là nhiễm sán lá phổi, sau đó được chữa khỏi chỉ trong 2 ngày. Một trường hợp khác là cô giáo vùng cao tại Hà Giang bị chẩn đoán nhầm lao phổi suốt 12 năm dẫn đến ho ra máu tươi liên tục, chịu sự xa lánh của cộng đồng và rơi vào trầm cảm. Sau khi được GS Nguyễn Văn Đề xác định chính xác nguyên nhân do sán lá phổi, bệnh nhân đã được điều trị khỏi hoàn toàn sau 2 ngày dùng thuốc.

Tránh nhầm lẫn Sán lá gan lớn với u gan, ung thư gan: Cuốn sách "Sán lá gan" (2004) của ông sau khi phổ biến đến 61 tỉnh thành đã hỗ trợ hàng chục nghìn bệnh nhân tránh khỏi các ca can thiệp nhầm lẫn do chẩn đoán sai biệt giữa sán lá gan lớn với khối u gan hoặc ung thư gan.

5. Đóng góp đưa thuốc đặc trị Sán lá gan lớn về Việt Nam

Vào năm 2000, khi tham dự hội nghị quốc tế cùng chuyên gia Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Carlo Urbani, GS.TS Nguyễn Văn Đề đã trực tiếp thảo luận và đề xuất WHO hỗ trợ khẩn cấp nguồn thuốc đặc trị sán lá gan lớn (Triclabendazole) cho Việt Nam.

Năm 2002, lô thuốc đầu tiên được đưa về nước. Tuy nhiên, do hoạt chất này chưa nằm trong danh mục dược điển quốc tế và Việt Nam lúc bấy giờ, Bộ Y tế chưa cho phép lưu hành diện rộng. Để tháo gỡ vướng mắc pháp lý này, Bộ Y tế đã giao GS Nguyễn Văn Đề làm chủ nhiệm đề tài cấp Bộ (năm 2003) nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâm sàng của Triclabendazole trên cơ thể người Việt Nam.

Đề tài nghiên cứu được nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc và được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bản quyền nhận dạng. Đây chính là cơ sở khoa học để Bộ Y tế cấp phép nhập khẩu chính thức và sau này là sản xuất thành công trong nước hoạt chất Triclabendazole, giúp điều trị khỏi bệnh cho hàng triệu bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn trên toàn quốc.

6. Sáng lập phòng khám điều trị mẩn Ngứa do ký sinh trùng

Năm 1995, nhận thấy nhu cầu thực tế của bệnh nhân tại cộng đồng, GS.TS Nguyễn Văn Đề đã đề xuất và trực tiếp tham gia thành lập Phòng khám chuyên ngành Ký sinh trùng thuộc Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương.

Trong thực hành lâm sàng, triệu chứng mẩn ngứa ngoài da, dị ứng, nổi mề đay kéo dài là những biểu hiện thường thấy ở bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng hoặc mắc các bệnh do giun sán (như giun lươn, giun xoắn, sán dây, hoặc ấu trùng sán lợn). Việc nhầm lẫn giữa bệnh da liễu thông thường và bệnh lý ký sinh trùng là rất phổ biến.

Bằng cách ứng dụng các nghiên cứu khoa học của ông cùng kỹ thuật chẩn đoán hiện đại (PCR), phòng khám đã trực tiếp chẩn đoán và chữa khỏi cho hàng trăm bệnh nhân sán lá phổi, hàng trăm nghìn bệnh nhân sán lá gan lớn/nhỏ, bệnh nhân giun lươn, giun xoắn, ấu trùng sán lợn... Đồng thời, các kết quả nghiên cứu và sách hướng dẫn của Giáo sư đã gián tiếp hỗ trợ kỹ thuật cho các y bác sĩ từ tuyến Trung ương đến địa phương chẩn đoán đúng và điều trị hiệu quả cho hàng triệu người bệnh trên cả nước.

7. Các danh hiệu và phần thưởng cao quý

Ghi nhận những đóng góp cho ngành y tế và giáo dục, GS.TS Nguyễn Văn Đề đã được Đảng và Nhà nước trao tặng các danh hiệu:

  • Danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân (2017).
  • Danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú (2005).
  • Huân chương Lao động hạng Ba (2014).
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2012).
  • Bằng Lao động sáng tạo do Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cấp (2007).
  • Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Bộ (2012-2014).
  • Kỷ niệm chương "Vì sức khỏe nhân dân".
  • Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp giáo dục".

THÔNG TIN LIÊN HỆ TƯ VẤN

  • Điện thoại: 0912 377 281 - 0387 407 687
  • Email: ngvdeyhn@gmail.com
  • Địa chỉ: 48/5 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, Q. Bình Thạnh, TPHCM